Chuyện Mục: Kiến Thức Tử Vi

Sao Thái dương tọa cung Dậu, sự nghiệp sau tuổi trung niên mới tốt.

Sao Thái dương thế bình và sao Thiên lương thế địa cùng tọa thủ cung Dậu, mặc dù giống như cung Mão nhưng sao Thái dương và Thiên lương ở cung Dậu đều nhập miêu. Do chênh lệch về ánh sáng của hai trường hợp này là lớn, những người tọa mệnh cung Dậu thường thiếu tính kiên định, dễ bị ảnh hưởng của môi trường, nhưng vẫn biết mình nên làm gì, phú quý không rõ ràng, hư mà không thực, làm ăn bôn ba vất vả, kết hôn muộn, sự nghiệp sau tuổi trung niên mới tốt.

thai-duong-tai-dau

BỐ CỤC SAO

Tại giờ Mão (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối), mặt trời ở thế địa, “dần lặn xuống phía Tây”, dáng mây buổi hoàng hôn khiến người ta muốn chiêm ngưỡng. Lúc này sao Thiên lương cùng tọa thủ.

VẬN MỆNH CỦA CÁC NĂM SINH KHÁC NHAU

Người sinh năm Giáp: Cung Mệnh có sao Thái dương hóa kỵ, cuộc đời nhiều lận đận, có nhiều nguy hiểm, với cha mẹ duyên mỏng, cuộc sống tình cảm có nhiều trắc trở, kết hôn muộn.

Người sinh năm ẤtCung Mệnh có sao Thiên lương hóa quyền, cung Tài bạch có sao Thái âm rơi vào thế hãm, hóa kỵ, thích độc lập;

Đối với sự việc luôn có những kiến giải riêng, thích quan tâm đến những việc không đâu, trong nguy hiểm lại có thể hóa nguy thành bình yên;

Có biểu hiện tốt với việc công chức hoặc các kỳ thi; duy không tốt với người thân là nữ giới, đối với tiền tài có ảnh hưởng không tốt, có điềm xa quê hương, người nữ tâm trạng không ổn định dễ sinh phiền muộn.

Người sinh năm Bính: Sao Thiên khôi nhập mệnh, có quý nhân phù trợ, cuộc đời thuận lợi.

Người sinh năm Bính Hợi, Bính Dậu, Bính Mùi, sao Lộc tồn và Mệnh mã cùng tọa thủ cung Tài bạch, là mệnh cách Lộc mã giao trì cách, thường là lao động vất vả mới có tiền tài;

Nếu sinh giờ Sửu, Tỵ, Mùi, Mão, năm Bính Hợi, Bính Dậu, Bính Mùi, các sao Thái dương, Thiên lương, Văn xương, Lộc tồn thuộc Tam phương Tứ chính hội tề tại cung Mệnh, là mệnh cách Dương lương xương lộc quan lộc tiền tài đều tốt, tham gia công chức hoặc các kỳ thi quốc gia nhất định có thành tích tốt.

Người sinh năm Đinh: Sao Thiên việt nhập miếu có người khác giới giúp đỡ, gặp dữ hóa lành, đồng thời cung Tài bạch có sao sao Thái âm hóa lộc, rơi vào thế hãm, mệnh nữ tính cách dịu dàng, tài lộc thuận lợi; mệnh nam có duyên với người khác giới, mặc dù phát triển nhưng thành quả lại khiêm nhường, phải trải qua quá trình gian nan vất vả, phương diện tình cảm dễ sinh phiền muộn.

Người sinh năm Tuất: Cung Tài bạch có sao Thái âm hóa quyền, hao tâm tổn sức, mệnh nam có thể tạo dựng sự nghiệp, mệnh nữ có thể nắm quyền.

Người mà sinh năm Tuất Hợi, Tuất Dậu, Tuất Mùi, các sao Lộc tồn, Mệnh mã cùng nhập cung Tài bạch, là mệnh cách Lộc mã giao trì.

Nếu sinh giờ Sửu, Tỵ, Mùi, Mão, năm Tuất Hợi, Tuất Dậu, Tuất Mùi, các sao Thái dương, Thiên lương, Văn xương, Lộc tồn thuộc Tam phương Tứ chính hội tề tại cung Mệnh, là mệnh cách Dương lương xương lộc.

Người sinh năm Kỷ: Cung Mệnh có sao Thiên lương hóa khoa, thường có sáng kiến đột phá khi nghiên cứu về các phương diện lý luận và kỹ thuật, nhân duyên tốt, có danh tiếng, có quý nhân giúp đỡ, rất có lợi cho việc thăng chức hoặc thi cử.

Người sinh năm Canh: Cung Mệnh có sao Thái dương hóa lộc, cung Tài bạch có sao Thái dương hóa khoa, làm việc vất vả, sự nghiệp có thành tựu nhưng vì đồng cung với sao Thiên lương nên dễ gây ra phiền phức về tiền tài, kiếm được tiền trong sạch, có người nữ âm thầm giúp đỡ, chú trọng bề ngoài mà không chú trọng vào phần bên trong.

Đồng cung có Kình dương cùng tọa thủ, thời nhỏ có thương vong, dễ gặp sự cố, thích hợp làm các công việc như văn học, giáo dục, công chức, võ sư, bác sỹ ngoại khoa hoặc các kỹ thuật chuyên môn.

Người sinh năm Tân: Cung Mệnh có sao Thái dương hóa quyền, sao Lộc tồn cùng tọa thủ mệnh, có năng lực lãnh đạo và lòng tự tin, đảm nhận chức vụ quan trọng, tiền tài dồi dào, mệnh nữ có hiện tượng “tranh quyền làm chồng” nên cuộc sống hôn nhân không viên mãn;

Những người sinh Sửu, Tỵ, Mùi, Mão năm Tân, các sao Thái dương, Thiên lương, Lộc tồn đồng nhập cung Mệnh, cung này hoặc cung Tam phương Tứ chính lại có thêm sao Văn xương là mệnh cách Dương lương xương lộc, quan lộc tiền tài đều tốt, tham gia công chức hoặc các kỳ thi quốc gia đều đạt thành quả tốt.

Người sinh năm Nhâm: Cung Mệnh có sao Thiên lương hóa lộc, sức khỏe tốt, trường thọ, có bậc tiền bối che chở, cuộc sống gặp nhiều nạn nhưng đều hóa điều tốt lành, tiền bạc dễ trở thành gánh nặng tinh thần.

Người sinh năm Quý: Cung Tài bạch có sao Thái âm hóa khoa, kiếm được tiền tài trong sạch, hoặc nhờ người nữ giúp đỡ mà có được tiền tài, chỉ chú trọng bên ngoài mà không trọng nội hàm, tránh tranh chấp đào hoa.

VẬN MỆNH CỦA CÁC GIỜ SINH KHÁC NHAU

Người sinh tháng 2, 6 sao Tả phù, Hữu bật, một sao tọa mệnh còn sao kia thì tại cung Tài bạch tam hợp hội chiếu, cuộc đời có nhiều sự giúp đỡ.

Đặc biệt, những người sinh giờ Sửu tháng 2, 6, 10, 12 sao Văn xương tọa mệnh, Tam phương Tứ chính lại có sao Tả phù cùng chiếu, là mệnh cách Phụ cùng văn tinh, tài hoa nhạy bén, được tôn vinh.

Người sinh giờ Sửu, Tỵ, Mão, các sao Văn xương, Văn khúc đồng chiếu tại cung Mệnh và Tam phương Tứ chính, học hành chăm chỉ, cứu giúp người hoạn nạn, có vinh hiển trong giới học thuật văn nghệ, sinh ra đã tài hoa. Nếu là mệnh nữ là người đa tình.

XEM TIẾP: cung Dậu sao thái dương văn xương văn khúc giáp ất bính tài bạch lộc tồn hóa khoa thiên lương