Chuyện Mục: Phật Giáo

Chùa Ba Vàng

Toạ lạc trên lưng chừng núi Thành Đẳng, chùa còn có tên gọi là Bảo Quang tự, tên dân gian thường gọi là Ba Vàng. Chùa nằm ở độ cao 340m trên một vị trí rất đẹp ở phía tây thành phố Uông Bí, phía trước là Bạch Đằng giang uốn lượn, xa xa là thành phố cảng Hải Phòng, hút tầm mắt là biển Đồ Sơn với muôn trùng sóng vỗ. Bên trái là những dãy núi Thanh Long trùng điệp chầu về, bên phải là những dãy núi Bạch Hổ hùng vĩ phục xuống.

chua-ba-vang

Cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời chính xác chùa Ba Vàng được khai sơn từ khi nào. Theo nội dung khắc trên cây hương đá trước cửa chùa thì chùa xưa được dựng vào năm Ất Dậu, triều vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (tức năm 1706) và ngôi chùa lúc đó được gắn liền với tên tuổi Ngài Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác (1659 - 1758). Tuy nhiên, căn cứ vào những dấu tích di chỉ được các nhà khảo cổ thêm thì ngôi chùa còn có thể được xây dựng từ sớm hơn, tức là vào thời Trần thế kỷ thứ 13.

Tuy nhiên chùa xưa chỉ còn là phế tích, để phát huy giá trị văn hóa lịch sử ngôi chùa liên tiếp được đầu tư tôn tạo. Ban đầu chùa được xây dựng bằng gỗ và sau đó năm 1993 chùa được trùng tu lại bằng xi măng.

Hiện vật đáng chú ý nhất của chùa Ba Vàng còn sót lại tới hôm nay là một số di vật bằng đá, bao gồm 1 bia đá cao 0,52 m, rộng 0,38 m, dày 0,12 m, 2 con rùa đá và 1 cây hương bằng đá cao 1,2 m 4 mặt, mỗi mặt rộng 0,22 m. Theo dòng chảy thời gian, chữ Hán trên bia đá và cây hương đá đã mòn, rất khó đọc.

Riêng cây hương bằng đá, phần lớn chữ ở mặt bia đã bị phai mờ, chỉ còn lại một số chữ lớn giáp đầu bia ghi các chữ: Thành Đẳng Sơn, Bảo Quang tự, Thiên đài trụ. Nghĩa là trụ đài đá chùa Bảo Quang, núi Thành Đẳng.

Lược sử Sư tổ chùa

Cuộc đời và sự nghiệp của Sư Tổ chùa ba Vàng chỉ lưu lại qua văn bia quá sơ xài. Nhưng căn cứ vào nhân truyền trong dân gian, thời đại, cuộc đời và sự nghiệp của Sư Tổ. Chúng ta có thể khẳng định Sư Tổ Là một vị Đại Thiền Sư đức cao vọng trọng.

Pháp danh của ngài là Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác. Ngài sinh vào ngày 06 tháng 01 năm Mậu Tuất (1658) vào thời vua Lê Hiển Tông. Ngài là hậu duệ của Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử.

Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Lê mạt, sau 230 năm nhà Lê trị vì đất nước. Nhà Lê là đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền. Nhà cầm quyền phong kiến coi trọng Khổng giáo (Quân – Thần – Phụ - Tử) để củng cố địa vị ngai vàng của mình mà đã coi nhẹ và đã đẩy Phật giáo xuống hàng thứ hai, sau đạo Khổng.

Trong thời gian 100 năm, Sư Tổ đã chứng kiến biết bao thăng trầm biến cố lịch sử: Nội chiến Nam – Bắc triều giữa Lê – Mạc. Rồi chúa Trịnh ra đời giương cao ngọn cờ "Phù Lê diệt Mạc” nhằm biến vua lê thành bù nhìn. Tấn tuồng Vua Lê - Chúa Trịnh đã kéo dài hàng trăm năm đã đẩy lùi lịch sử Việt Nam vào con đường tăm tối. Chính lúc hoàn cảnh xã hội vô cùng nghiệt ngã, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã bị thất truyền sau 300 năm sự xuất hiện của Sư Tổ như một ngọn đèn thắp sáng những ngày đêm u tối.

Ngài ra đời và đi tìm chân lý mà mình phải đi. Ngài đã xác định, là người con Phật thì phải ly gia cắt ái xuất phát từ non thiêng Yên Tử xả thân cầu đạo giải thoát và Ngài đã thành tựu sở nguyện khi được làm đệ tử của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử tiếp nối mạng mạch Phật pháp do chư Tổ truyền trao. Một đêm trong lúc tọa thiền, Ngài hướng tâm quán chiếu nhân duyên phổ độ chúng sinh. Núi Thành Đẳng dù chưa một lần đặt chân nhưng Ngài đã quán xét thấy nơi đây là nơi hội tụ của linh căn trời đất, có rồng chầu hổ phục, lại cách xa dân, có thể dựng một thảo am để ẩn tu.

Để thực hiện lý tưởng thiêng liêng, một mình sư Tổ đã băng ngàn, vượt suối, qua đèo về Thành Đẳng khi Ngài ngoài 40 tuổi vào thời vua Lê Dụ Tông. Ngài đã sống lặng lẽ một mình mượn cây cỏ trong rừng đẻ dựng thành am tu tập. Ngài sống chủ yếu bằng rau quả của núi rừng Ba Vàng uống nước suối, giếng Sơn Thần. Xong thân tướng và sức vóc Ngài vẫn phương phi cường tráng, đôi mắt ngài vẫn ngời ngời sáng.

Với việc tự nhiên tại núi rừng hoang vắng xuất hiện một thảo am và một người đầy lòng từ bi đức độ, ngày đêm lặng lẽ tọa thiền. Sự ngạc nhiên được lan truyền khắp vùng Uông Bí "tại núi rừng Ba Vàng có một vị tiên xuất hiện”. Lúc đầu chỉ là những người tiều phu, là những người đi tìm dược liệu được tiếp xúc với Ngài, được Ngài cho ẩn trú khi gặp những cơn mưa rào bất chợt. Nhưng do tiếng lành đồn xa, sau một thời gian, dân khắp miền kéo đến một đông. Ngài đã dạy cho dân biết cách chữa bệnh, cách chế biến thuốc. Nhiều con bệnh hiểm nghèo đã được ngài cứu thoát.

Chính vì thế nhân dân địa phương đã tôn Ngài là một vị Ân Sư cứu nhân độ thế, nên Ngài đã được nhân dân thập phương dâng cúng ngài lương thực, thực phẩm để cảm tạ ân đức. Ngài đã hóa độ cho tất cả mọi người, nhất là những người cô đơn có hoàn cảnh khó khăn và ngẫu nhiên tại đây thành một đạo tràng tu Phật pháp. Sư Tổ còn kết hợp Tam Giáo đồng nguyên giưa Nho Giáo, Khổng Giáo, Phật Giáo để tùy thuận tác duyên cho tất cả các đối tượng thuộc hạ căn, trung căn, thượng căn. Chính vì thế nhiều Phật tử, nhiều tầng lớp xã hội, nhiều đẳng cấp đã hằng tâm hằng sản cùng Sư Tổ Phật để trùng tu Bảo Quang Tự vào thời vua Lê Dụ Tông (1705) khi Sư Tổ tròn 48 tuổi.

chua-ba-vang-1

Năm mươi hai năm tại đây Ngài đã cứu đời, tiếp Tăng độ chúng. Gần 100 vị Thiền Tăng đã trưởng thành tại đây và tỏa đi độ chúng ở mọi miền đất nước. Những người thợ đá ở nhiều nơi vì chịu ơn Ngài cứu giúp nên đã khắc bia đá, rùa đá lưu lại hậu thế cho đến ngày nay. Mặc dù do sự bức bách của xã hội, của chính quyền đương thời, Ngài chỉ âm thầm lặng lẽ:

"Thế chiến quốc, thế xuân thu,

Gặp thời thế, thế thời phải thế.

Ai công hầu, ai khanh, ai tướng,

Dưới trần ai, ai dễ, biết ai”.

Tại núi rừng hoang vắng này tuy Ngài ít biết đến ai, nhưng những người tha thiết cầu đạo không ai là không biết đến Ngài. Chính vì thế, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử không những đã được nối mạng mạch mà càng ngày càng phát triển rực rỡ tại Thành Đẳng Sơn.

Rồi bỗng một đêm bầu trời u ám, mưa to, gió lớn, sấm chớp rền vang như rung chuyển núi rừng Ba Vàng. Dưới chân núi nhiều nhà dân bị sụp đổ, nhưng ai ai cũng thấp thỏm và cầu nguyện mong thảo am Sư Tổ tu hành được an toàn.

Sáng sớm hôm sau trời còn mù mịt, cây đổ ngổn ngang, suối nước ồn ào, đất đá chắn đường nhưng từng đoàn người đã kéo lên chùa để thăm Sư Tổ. Mọi người đều hết sức ngỡ ngàng vì ánh sáng kỳ lạ như hào quang tỏa sáng, khói hương nghi ngút như những làn mây bay lượn càng tô thêm vẻ uy nghi, tráng lệ của Bảo Quang Tự.

Tại gian giữa chánh điện, Sư Tổ đang tọa thiền trên sập gỗ sơn son thếp vàng. Chư đệ tử cùng tọa thiền quanh Sư Tổ theo hình chữ U. Không khí và những âm thanh tụng niệm xa gần như khác với mọi lần, một âm thanh tha thiết, mang đượm một nỗi thâm trầm da diết, sâu thẳm. Và kỳ lạ thay, tất cả chư đệ tử Tăng – Tục đều chít khăn tang.

Khi dân làng đã hội tụ về chùa khá đông, một Thầy Tăng trang nghiêm trầm lặng báo tin rằng: Sư Tổ đã an nhiên về cõi Niết Bàn "Thường – Lạc – Ngã – Tịnh” vào giờ Tý khi sao Khuê bừng sáng nhằm ngày 23 tháng 08 năm Đinh Sửu (1757), đời vua Lê Hiển Tông. Ngài trụ thế 100 tuổi. Không nén nỗi xúc động, nhiều người đã òa lên những tiếng khóc nức nở, một số khác thì chí thành cung kính ngũ thể đầu địa đảnh lễ tri ân đức Sư Tổ.

Ngài đã lẵng lẽ ra đi, an nhiên thị tịch không một lời di chúc. Nhưng Ngài đã để lại muôn vàn ân đức cho thế gian. Đặc biệt là những di sản vật thể vô cùng quý giá: Bia đá, rùa đa, cây hương ...

Tuy hai thế hệ, hai thời đại khác nhau hàng 300 năm nhưng duyên đã định. Giác Linh Sư Tổ như thầm nhủ Đại Đức Thích Trúc Thái Minh cùng là hậu duệ của Tam Tổ Trúc Lâm, tiếp nối và phụng hành Phật sự của Như Lai tại núi Ba Vàng để giương cao đuốc trí tuệ Phật Pháp, Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử sau 300 năm bị gián đoạn.

Chân lý vô thường của đạo Phật là một quy luật khách quan "đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên” cho nên "tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên”.

Một sự tùy duyên, tác duyên trùng lặp hi hữu trong lịch sử và vô cùng chân quý như ước nguyện của Sư Tổ đã ấp ủ từ quá khứ 300 năm về trước, để hôm nay thành hiện thực sau 300 năm:

Từ trong hiện thực hôm nay,

Ba trăm năm trước gieo duyên tháng ngày

Sau Ba trăm năm đổi thay,

Hữu duyên tái ngộ đắm say lòng người.

XEM TIẾP: chùa ba vàng sư tổ thiền sư trúc lâm